Khái quát tình hình cung ứng lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài giai đoạn 2007 -2016 (Phần 2)

0
11


Mức lương dự kiến:

Giai đoạn 2007 – 2016 tình hình cung ứng lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài có nhiều chuyển biến tích cực được thống kê cụ thể qua số liệu hàng năm (Phần 1), tuy nhiên không tránh khỏi một số hạn chế cần khắc phục như sau.

II. Một số hạn chế cần khắc phục

  1. Quy mô lao động có tốc độ tăng chưa ổn định ở một số khu vực

Thống kê tốc độ tăng bình quân quy mô lao động đưa đi giai đoạn 2007 – 2016 được thể hiện ở Bảng 3.

Bảng 3: Tốc độ tăng lao động đi làm việc ở nước ngoài hàng năm

Đơn vị: %

                              Năm 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016
                       Toàn quốc                               2,26 -19,12 14,63 3,12 -9,93 8,91 17,46 7,88 8,17
                      Đông Bắc Á 26,24 -55,16 15,83 28,28 -23,88 20,55 30,17 8,94 13,94
                      Đông Nam Á -156,29 11,69 35,84 -25,27 17,58 -23,66 -208,19 25,82 -250,36
                        Bắc Phi 84,81 56,29 4,14 -350 -47,32 36,23 16,57 18,05 -68,03
                      Trung Đông 6,84 21,93 0,47 102,74 -2,20 -20,08 29,68 -16,47 9,17
                       Khác 77,47 -2,19 -110,45 -48,87 38,49 -56,45 17,58 -167,75 -105,07

Nguồn: Tính toán từ thống kê hàng năm của DOLAB

Số liệu thống kê cho thấy giai đoạn này tốc độ tăng bình quân của quy mô lao động đưa đi hàng năm không ổn định ở các khu vực Đông Nam Á, Bắc Phi, Trung Đông và chỉ có thị trường các nước tiếp nhận khu vực Đông Bắc Á có tốc độ tăng bình quân với mức biến động không lớn, mặc dù mấy năm gần đây thị trường Hàn Quốc tạm dừng tiếp nhận lao động Việt Nam.

  1. Trình độ tay nghề của người lao động còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu của thị trường tiếp nhận

Phần lớn lao động đi làm việc ở nước ngoài sống ở nông thôn, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, mức sống trung bình, nghèo nên trình độ học vấn thấp, chưa qua đào tạo nghề, không có ngoại ngữ, ý thức kỷ luật, tác phong lao động công nghiệp và sức khỏe hạn chế. Lao động phổ thông và lao động có tay nghề thấp chiếm khoảng 50 -60%, nhưng theo báo cáo của 10 tỉnh, thành phố được cơ quan Quốc hội giám sát, tỷ lệ lao động có tay nghề ước khoảng 20-30%, còn tổng hợp báo cáo của các địa phương, doanh nghiệp và so sánh với kết quả của Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 thì số lao động có tay nghề có thể còn thấp hơn nữa, nhiều lao động làm các công việc giản đơn, phổ thông ở các thị trường có thu nhập thấp.

Thống kê báo cáo của 77 Doanh nghiệp hội viên Hiệp hội, con số này trong cả giai đoạn 2007 -2016 là 20% lao động được đào tạo có tay nghề trước khi đi làm việc ở nước ngoài.

Tình hình trên cho thấy vấn đề này chưa được cải thiện nhiều so với những năm trước khi có Luật.

  1. Đơn phương phá bỏ hợp đồng, cư trú và làm việc bất hợp pháp của người lao động tại một số thị trường còn chiếm tỷ lệ cao

Một bộ phận lao động chưa chú tâm tìm hiểu kỹ pháp luật, thông tin về thị trường lao động, chưa nghiên cứu kỹ các nội dung hợp đồng ký kết trước khi đi, chỉ mong được đi nhanh, rút ngắn thời gian đào tạo, sẵn sàng mất tiền qua trung gian để ra nước ngoài; trong quá trình lao động ý thức kỷ luật kém, chưa chấp hành đầy đủ quy định pháp luật, thiếu tôn trọng phong tục, tập quán của nước sở tại… Tình trạng lao động bỏ trốn, phá hợp đồng ra ngoài làm việc, nấu rượu lậu, đánh bạc, đánh nhau, trộm cắp..ở mức độ khác nhau vẫn diễn ra ảnh hưởng đến uy tín, hình ảnh của lao động cũng như đất nước, con người Việt Nam ở nước ngoài.

Lao động bỏ trốn và cư trí bất hợp pháp diễn ra điển hình tại Hàn Quốc, tỷ lệ tuân thủ thời hạn hợp đồng chiếm gần 50%, cao gấp 2,6 lần so với tỷ lệ chung bỏ trốn của lao động nước ngoài làm việc tại Hàn Quốc và tại Đài Loan tỷ lệ này 17% trong khi đó tỷ lệ chung là 8%. Mục đích các lao động phá vỡ hợp đồng ra ngoài làm là để có thu nhập cao hơn, cư trú bất hợp pháp để có thể ở lại làm việc lâu hơn, như tu nghiệp sinh tại Nhật Bản có mức lương trung bình khoảng 600 – 800 USD/tháng, nhưng nếu trốn ra làm việc ở ngoài có thể được mức lương gấp 3 lần.

Chính vì vậy, trong một số thời điểm, một số nước đã ngừng cấp thị thực hoặc không nhận lao động của một số địa phương sang làm việc (Nhật, Qatar, Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất) hoặc tạm dừng tiếp nhận lao động Việt Nam (Hàn Quốc); một bộ phận lao động phải về trước thời hạn do nguyên nhân chủ quan.

  1. Việc quản lý, sử dụng và thực hiện chính sách đối với người lao động sau khi về nước chưa được quan tâm

Mặc dù Điều 59, 60 của Luật đã quy định hỗ trợ việc làm và khuyến khích tạo việc làm đối với lao động sau khi về nước, song trong thực tế giám sát tại địa phương và Bộ, ngành cho thấy, 50/63 tỉnh, thành phố không nắm được số lượng lao động về nước (cả lao động hoàn thành hợp đồng và lao động về trước hạn), chưa có chính sách hỗ trợ đối với nhóm đối tượng này, chưa có chính sách khuyến khích người lao động và gia đình họ đầu tư sản xuất, kinh doanh, sử dụng hiệu quả thu nhập có được từ việc đi lao động ở nước ngoài, cũng như thông tin và hướng dẫn họ đăng ký tìm việc làm phù hợp. Phần lớn người lao động về nước phải tự tìm việc làm, tạo việc làm cho mình. Bên cạnh đó, một số tác động xã hội đối với người lao động khi về nước cũng chưa được quan tâm thỏa đáng.

dang-ky-2

Đăng ký tư vấn xuất khẩu lao động Nhật Bản miễn phí

Vui lòng nhập các thông tin dưới đây, đội ngũ tư vấn sẽ liên hệ tư vấn miễn phí cho bạn

BÌNH LUẬN

Please enter your name here
Please enter your comment!