Tuyển TTS đi xuất khẩu lao động Nhật Bản lương cao, xuất cảnh nhanh

Khái quát tình hình cung ứng lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài giai đoạn 2007 -2016 (Phần 1)

Ước tính có trên 500 nghìn lao động Việt Nam đang làm việc ở khoảng 40 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới, với khoảng 30 ngành, nghề khác nhau từ lao động giản đơn đến lao động kỹ thuật cao và chuyên gia. Trong 5 hình thức đi làm việc ở nước ngoài (qua doanh nghiệp dịch vụ, tổ chức sự nghiệp, doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu, đầu tư ra nước ngoài, thực tập nâng cao tay nghề và hợp đồng cá nhân), đa số lao động đi làm việc ở nước ngoài thông qua các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ và tổ chức sự kiện.

  1. Một số kết quả được nhìn nhận là tích cực
  2. Quy mô lao động
  • Quy mô lao động giai đoạn 2007 – 2016 có xu hướng gia tăng

Số lượng lao động đi làm việc ở nước ngoài giai đoạn 2007 – 2016 là 936.503 người. Quy mô bình quân năm lao động đi làm việc nước ngoài giai đoạn này trên 93.000 người, cao hơn quy mô lao động đưa đi của giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2006 (giai đoạn chưa có Luật) trên 405.000 người, chỉ đạt mức bình quân gần 58.000 người/năm. (Xem bảng 1).

Bảng 1: Quy mô lao động giai đoạn 2000 – 2006 và 2007 – 2016

Đơn vị: Nghìn người

Giai đoạn 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006                        Tổng
2000 – 2006 31,50 36,17 46,12 75,00 67,45 70,59 78,86 405.686
Giai đoạn 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013    2014   2015      2016 Tổng
2007 – 2016 85,02 86,99 73,03 85,55 88,30 80,32 88,16 106,80 116,00 126,30 936,503

Nguồn: Tổng hợp từ thống kê hàng năm của DOLAB

Như vậy, bình quân hàng năm số lao động đi làm việc ở nước ngoài góp phần giải quyết việc làm với tỷ lên trên 7% tổng số việc làm mới.

  • Tỷ lệ lao động phân theo khu vực tiếp nhận

Tỷ lệ lao động giai đoạn này phân theo các khu vực, được thể hiện ở Bảng 2.

Bảng 2: Tỷ lệ lao động giai đoạn 2007 – 2016, phân theo khu vực tiếp nhận

Đơn vị: %

 

                                                                                       Giai đoạn 2007 – 2016          
   Đông Bắc Á        Đông Nam Á       Bắc Phi      Trung Đông           Khu vực còn lại             Tổng
             71,82              15,90             2,46                7,34                   2,48            100

Số liệu Bảng 2 cho thấy, lao động đi làm việc tại Khu vực Đông Bắc Á chiếm tỷ trọng hàng năm cao nhất. Tính cho cả giai đoạn này số lao động cung ứng cho khu vực này là 672.615 người, chiếm 71,82% tổng số lao động đưa đi; tiếp theo là khu vực các nước Đông Nam Á, tiếp nhận 148.922 người, chiếm tỷ lệ 15,90%; Khu vực các nước Trung Đông: 68.741 người, tỷ lệ: 7,34%; Khu vực các nước Bắc Phi: 23.084 người, tỷ lệ: 2,46% và khu vực các nước còn lại: 23.141 người, tỷ lệ: 2.48%.

  • Quy mô lao động phân theo các thị trường trọng điểm

Số lượng người lao động cũng phân bố khác nhau ở các địa bàn. Hàng năm số thị trường tiếp nhận lao động Việt Nam dao động từ 30 đến 40 nước và vùng lãnh thổ. Năm 2008, năm lao động Việt Nam đi làm việc tại 42 nước và vùng lãnh thổ, đây là năm có nhiều thị trường tiếp nhận lao động Việt Nam, năm 2016 lao động Việt Nam chỉ làm việc ở 21 thị trường.

Trong số các thị trường tiếp nhận lao động Việt Nam, có 4 thị trường có số lượng lao động Việt Nam đến làm việc với quy mô lớn nhất, đó là: Đài Loan: 418.633 người, chiếm 44,70% tổng số lao động đưa đi cả giai đoạn này; Hàn Quốc: 98.125 người – 10,48%; Malaysia: 90.458 người – 9,66% và Nhật Bản: 134.388 người – 35,16%. Riêng 4 thị trường này, số lao động Việt Nam đưa đi là 741.604 người, chiếm 79,19% tổng số lao động đưa đi giai đoạn 2007 – 2016. Như vậy, chỉ riêng hai thị trường Đài Loan và Nhật Bản tỷ lệ cung ứng lao động đã chiếm 79,86% tổng số lao động đưa đi trong giai đoạn này. Đây là một định hướng đúng trong hoạt động định hướng thị trường đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.

  1. Cơ cấu ngành nghề và giới tính

Đa số ngành nghề, việc làm theo yêu cầu của nước ngoài thường đòi hỏi trình độ không cao phù hợp với lao động nông thôn Việt Nam như: xây dựng, giày da, may mặc, giúp việc gia đình, chăm sóc người bệnh hoặc người già yếu, tàn tật, nông nghiệp, lắp ráp điện tử,.. Một số quốc gia có nhu cầu ngành nghề kỹ thuật cao nhưng các doanh nghiệp cung ứng lao động chưa đáp ứng được.

Số liệu khảo sát về cơ cấu ngành nghề của lao động Việt Nam làm việc tại 4 thị trường trọng điểm trên do Viện khoa học Lao động – Xã hội (Molisa) công bố năm 2012 cho thấy gần sát với nhận định trên. Cụ thể: Lao động nhà máy: 72%; lao động xây dựng: 5,31%; chăm sóc người bệnh và giúp việc gia đình: 18%; Thuyền viên: 3,10%; dịch vụ khác: 0,83% và lao động trong lĩnh vực nông nghiệp: 0,76%.

Phần đông người lao động Việt Nam được các quốc gia và doanh nghiệp tiếp nhận đánh giá khéo tay, cần cù, nắm bắt nhanh công việc đảm nhận, ham học hỏi, sáng tạo, năng động, làm việc năng suất, chất lượng. Một số quốc gia như Hàn Quốc, Nhật Bản ghi nhận lao động Việt Nam ở vị trí cao so với lao động các nước khác. So với trước khi đi, người lao động được nâng cao tay nghề, có thêm tay nghề.

Về cơ cấu giới tính, tỷ lệ lao động nữ tăng dần, từ năm 2001 – 2006 tỷ lệ nữ chỉ chiếm khoảng 10-15% trong tổng số lao động, đến thời kỳ 2007 -2016, tỷ lệ lao động nữ luôn chiếm từ 30% trở lên, tỷ lệ này trong cả giai đoạn là 33,51%, tỷ lệ nữ đạt cao nhất vào năm 2011: 36,23% và thấp nhất vào năm 2009: 30,15%.

Sự gia tăng lao động nữ trong cơ cấu lao động đi làm việc ở nước ngoài trong giai đoạn này là một biểu hiện tích cực góp phần cải thiện vị thế và tính chủ động tham gia vào thị trường lao động ngoài nước của lao động nữ.

  1. Đời sống người lao động được cải thiện, gia tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước, góp phần xóa đói giảm nghèo cho một bộ phận dân cư và người lao động

Đa số người lao động có thu nhập tương đối ổn định, cao hơn so với việc làm trong nước cùng ngành nghề, cùng trình độ… Tính bình quân chung, thu nhập sau khi trừ chi phí sinh hoạt của lao động tại các thị trường cơ bản như sau: Khoảng từ 3-4 triệu đồng/tháng tại các thị trường thu nhập thấp, sử dụng lao động giản đơn (Malaysia); từ 7-12 triệu tại thị trường có thu nhập trung bình (Trung Đông, Đông Âu) và từ 15-20 triệu đồng ở những thị trường thu nhập cao (Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan).

Hàng năm lượng tiền người lao động gửi về nước khoảng 2 tỷ đô la Mỹ. Năm 2007, người lao động Việt Nam ở nước ngoài gửi về nước lượng kiều hối khoảng 1,6 tỷ USD. Trong đó từ Hàn Quốc trên 700 triệu USD. Năm 2010, Việt Nam đứng thứ 16 trong 30 quốc gia có lượng kiều hối chuyển về nhiều nhất, là một trong 10 quốc gia có thu nhập lớn từ xuất khẩu lao động.

Năm 2012, con số này là 2 tỷ đô la Mỹ trong tổng số 9 tỷ đô la Mỹ kiều hối từ người di cư gửi về, xếp thứ 9 trong số các nước có lượng kiều hối gửi về lớn nhất theo xếp hạng của Ngân hàng thế giới.

Xem thêm: Khái quát tình hình cung ứng lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài giai đoạn 2007 -2016 (Phần 2)

Nguồn: Vamas

dang-ky-2

0 replies

Leave a Reply

Want to join the discussion?
Feel free to contribute!

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bạn có thể sử dụng các thẻ HTML và thuộc tính sau: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>